PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Huyền thoại, xưa và nay !!!!



SuperFM
09-10-2008, 04:05 PM
Lập cái topic ngồi bàn luận về các huyền thoại xưa và nay cái nào. Từ huyền thoại có lẽ hơi quá, nhưng SFM nghĩ có thể dùng nó để đánh giá 1 con người, dựa trên khả năng và đóng góp của họ trong/ngoài sân cỏ.

Xin mở màn với 1 con người mà SFM cho là cầu thủ xuất sắc nhất thời đại: Zidane, 1 huyền thoại bóng đá pháp vừa mới giải nghệ :D

http://www.worldproutassembly.org/images/zidane.jpg


Nhắc đến Zidane là ai cũng phải nghĩ đến 1 cầu thủ , 1 thủ lĩnh có lối chơi hào hoa, nhưng vô cùng hiệu quả , đi kèm với nó là những pha bóng và bàn thắng để đời :am:. Thành tích ấn tượng nhất của Zizou đối với SFM là năm 1998 , khi anh cùng đồng đội vượt qua Brazil trong trận CK WC, khi đó Brazil đang sở hữu 1 dàn cầu thủ đỉnh cao phong độ, đặc biệt là người ngoài hành tinh Ronaldo . Vậy mà Zizou và đội tuyển Pháp đã vượt qua với 3 bàn không gỡ :|.

Thành tích cá nhân c:a18:

Với đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp

* Giải vô địch bóng đá thế giới
o Vô địch: 1998
o Hạng nhì: 2006
o Các lần tham dự khác: 2002
* Giải vô địch bóng đá châu Âu
o Vô địch: 2000
o Các lần tham dự khác: 1996, 2004

Với câu lạc bộ Juventus

* Siêu cúp bóng đá châu Âu: 1996
* Cúp bóng đá Liên lục địa: 1996
* Vô địch bóng đá Ý: 1996/1997 và 1997/1998
* Siêu cúp bóng đá Ý: 1997

Với câu lạc bộ Real Madrid

* UEFA Champions League: 2001/2002
* Cúp bóng đá Liên lục địa: 2002
* Vô địch bóng đá Tây Ban Nha: 2002/2003

Các danh hiệu cá nhân

* Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA ba năm 1998, 2000 và 2003; xếp thứ ba 1997 ; xếp thứ hai 2006
* Quả bóng vàng châu Âu 1998; Quả bóng bạc 2000; Quả bóng đồng 1997
* Cầu thủ xuất sắc nhất trong 50 năm của UEFA (1954-2004)
* Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của tạp chí World Soccer 1998
* Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá thế giới 2006 (giải Quả bóng vàng)


Dường như ỏ đâu có Zidane, ở đó có danh hiệu :|.

P/s : mọi người cùng lên danh sách những huyền thoại bóng đá nhé , cố gắng có thêm ảnh minh hoạ và thành tích thì quá tốt, kể cả xưa và nay.

Akasaka Jun
09-10-2008, 05:16 PM
Diego Maradona

http://old.netmode.com.vn/dataimages/200606/original/images1008191_maradona2.jpg
Diego Armando Maradona (sinh 30 tháng 10 năm 1960 tại Buenos Aires) là cựu cầu thủ bóng đá Argentina. Ông từng tham dự 4 World Cup bóng đá và nhận được danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu Cầu thủ của thế kỉ do khán giả trên mạng bình chọn .

Maradona giành được nhiều danh hiệu với Boca Juniors, FC Barcelona và SSC Napoli trong sự nghiệp của mình. Ông khoác áo đội tuyển quốc gia Argentina 91 lần và ghi được 34 bàn thắng, tham dự 4 World Cup, dẫn dắt đội tuyển Argentina vô địch World Cup 1986, và giành luôn danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất ở giải đấu này. Bàn thắng thứ hai trong trận gặp Anh ở giải đấu đó, một pha dẫn bóng đến 60 mét, lừa qua 6 cầu thủ Anh, được coi là Bàn thắng của thế kỉ



♥♥♥


Về phương diện cá nhân, anh đã đi tới tột đỉnh vinh quang với tư cách đội trưởng đội VĐTG 1986 và còn được tôn vinh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới thế kỷ 20 cùng với Pele. Tuy nhiên, thành tích vài chiếc cúp cấp CLB có vẻ là quá ít so với đẳng cấp và những cống hiến của anh.

Lập nghiệp

Maradona được gọi lên đội 1 Argentinos Juniors và có trận đầu tiên ở giải VĐQG ngày 20/10/1976 gặp Talleres de Córdoba, đúng 10 ngày trước khi tròn 16 tuổi. HLV Juan Carlos Montes nói khi đưa anh vào sân: “Tiến lên Diego. Hãy thể hiện những gì cậu biết”. Và Maradona đã làm được như thế. Anh bắt đầu với một pha “xỏ lỗ kim” qua khe giữa hai chân của đối thủ đầu tiên đối mặt và cứ thế say sưa trổ tài làm ảo thuật với quả bóng. Đó là cuộc đấu đầu tiên của một cuộc chinh phục cả thế giới kéo dài.

Ở Argentinos, anh bắt đầu với cố gắng để cứu đội bóng khỏi tình thế khó khăn và kết thúc với việc tìm kiếm chức VĐ, một hình ảnh đã trở thành quen thuộc về sau này khi chơi cho các đội khác. SVĐ Boyaca & Garcia cũ nát trở thành trung tâm chú ý của cả thế giới bóng đá còn CĐV các CLB khác nô nức kéo tới để được thấy số 10 của Argentinos chơi bóng. Việc Maradona được HLV ĐTQG Cesar Luis Menotti triệu tập chuẩn bị cho trận giao hữu gặp Hungary là một bước tiến vượt bậc. Sự thật là trước khi được mặc chiếc áo sọc xanh da trời-trắng, anh mới chỉ chơi có 12 trận ở giải hạng Nhất!

Boca, CLB mà anh ủng hộ từ bé, là nơi Maradona có được danh hiệu VĐQG đầu tiên của mình năm 1982. Những gì anh thể hiện khiến tất cả các CĐV CLB cảm giác Boca là Maradona và Maradona cũng chính là Boca.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/ed/Boca_diego_retro.jpg
Maradona trong màu áo Boca
Maradona bắt đầu có tiền, rất nhiều tiền. Mơ ước thời thơ ấu về một cuộc đổi đời cho bản thân và cho gia đình đã trở thành hiện thực. Sau này, khi đã rời sân cỏ, Maradona vẫn được xem như một huyền thoại kinh tế thế giới và sự góp mặt của anh luôn đảm bảo cho sự thành công của mọi thương vụ.

Sau World Cup 1982 đáng thất vọng, Cesar Luis Menotti sang làm HLV Barcelona và kéo học trò Maradona theo mình. Ở Barcelona, anh đã trải qua một thời gian khó khăn. Đầu tiên là vật lộn với bệnh viêm gan và sau đó một cú tắc hiểm ác của Andoni Goikoetxea (Athletic Bilbao) ngày 24/9/1983 đã đặt sự nghiệp thi đấu của Maradona bên bờ vực. Tuy nhiên, sức mạnh thể lực và ý chí đã giúp anh trở lại sân cỏ chỉ sau 14 tuần.

http://www.vivadiego.com/bar1.jpg
Chính tại Barcelona, Maradona đã học được nhiều từ bóng đá châu Âu. Các cầu thủ tranh cướp quyết liệt hơn và ít thể hiện kỹ thuật hơn. Maradona nhận thấy rằng với phần lớn đồng đội của anh, di chuyển còn quan trọng hơn chơi bóng. Ngược lại, các đồng nghiệp và khán giả được chiêm ngưỡng vẻ đẹp bóng đá từ cái chân trái hoàn hảo của Maradona. Nhiều người nói rằng những gì anh đã làm với quả bóng ở Barcelona không bao giờ có thể lặp lại. Chẳng hạn như bàn thắng sau pha rê dắt bóng xuyên thủng toàn bộ hàng phòng ngự Real Madrid.

Bị đẩy sang SSC Napoli, anh đã trở thành “thánh Diego” khi đưa đội bóng Italia này tới kỷ nguyên thành công nhất trong lịch sử của họ. Ngày 10/5/1987, Napoli có chức VĐQG đầu tiên còn Naples có thêm một ông thánh (Thánh Diego) ngoài vị thánh hộ mệnh San Gennaro của thành phố. Cả hai chức VĐ Italia (1987 và 1990) mà Napoli giành được trong lịch sử là nhờ có Maradona.

http://www.diariosdefutbol.com/images/2006/12/maradona-napoli-online-1.jpg
Tại Naples, Maradona cũng đối mặt với những bê bối lớn nhất trong đời cầu thủ, trong đó có việc có một đứa con ngoài giá thú và bị nghi ngờ có quan hệ bạn bè với Camorra, một trùm maphia địa phương.
World Cup 1990, chủ nhà Italia bị Argentina của Maradona loại ở bán kết. Bởi sự thật này mà Maradona chịu cơn thịnh nộ bất công của các fan Italia trong mùa bóng cuối cùng ở Italia 1990/91. Anh chơi trận cuối cùng của mình cho Napoli ngày 24/3/1991 gặp Sampdoria ở Genoa. Mẫu thử doping của Maradona cho kết quả dương tính khiến anh quyết định trốn chạy khỏi Italia mà không kịp chào tạm biệt những người hâm mộ Naples. Dù vậy, quãng thời gian ở Napoli đã trở thành đáng nhớ nhất với anh.

Maradona trở lại sân cỏ trong màu áo FC Sevilla sau 15 tháng bị treo giò, một hình phạt quá nặng với một thiên tài hiếm có của bóng đá. Đã VĐTG với Argentina, đã ngự trị ở vị trí cao nhất trong lòng người hâm mộ khi chơi ở Italia, Maradona đã đi tới đỉnh thiên đường. Anh đã có lúc là hiện thân của Chúa Trời và giờ cố gắng để trở lại mặt đất lần nữa. Sevilla có vẻ là điểm đến hoàn hảo cho điều đó.

Nhưng cũng chỉ sau hơn một mùa bóng, Maradona trở về quê hương chơi cho Newell's Old Boys. Anh quyết định chia tay CLB mới để tập trung sức lực khi được gọi trở lại ĐTQG. Sự nghiệp thi đấu ở CLB của Maradona bị gián đoạn do vụ doping ở World Cup 1994. Thế nhưng, anh đã chứng tỏ “sức mạnh” của mình không phụ thuộc vào tuổi tác hay trọng lượng khi trở lại chơi cho Boca Juniors từ cuối năm 1995 cho tới khi treo giày thực sự năm 1997 ở tuổi 37.

Vô địch thế giới

Maradona gặt hái được thành công lớn nhất là danh hiệu VĐTG với ĐT màu áo sọc trắng-xanh da trời, nơi anh chơi 91 trận và ghi 34 bàn.

http://www.turkcebilgi.com/uploads/media/galeri/maradona_1.jpg
Maradona chơi trận ra mắt ĐTQG Argentina gặp Hungary ở tuổi 16. Ở tuổi 18, anh đã trở thành ngôi sao trong giải VĐ bóng đá trẻ thế giới mà Argentina là đội thắng 3–1 trong trận CK trước Liên Xô.

World Cup 1986 là giải đấu mà những phẩm chất thiên tài của Maradona đã thăng hoa và những đóng góp của anh đã góp phần quyết định vào chức VĐ của đội bóng áo sọc xanh-trắng. Maradona thống trị giải đấu và ấn tượng từ hai bàn thắng của anh trong trận gặp ĐT Anh ở tứ kết đã củng cố hình ảnh “huyền thoại Maradona”. Pha chiếu chậm cho thấy bàn thắng đầu tiên của Maradona được ghi bằng tay dù anh đã chối khi gọi đó là “Bàn tay của Chúa”.

Tuy nhiên, bàn thắng thứ hai của Maradona là một màn trình diễn tuyệt vời của những kỹ năng bóng đá.

http://shieldsunitedfc.intheteam.com/site/images/10901/maradona%20v%20england.jpg
Maradona dẫn bóng suốt nửa sân, vượt qua 5 cầu thủ Anh (Glenn Hoddle, Peter Reid, Kenny Sansom, Terry Butcher và Terry Fenwick) cũng như thủ môn Peter Shilton. Bàn thắng này được bầu là Bàn thắng đẹp nhất thế kỷ 20 trong một cuộc bầu chọn qua Internet năm 2002 do FIFA tổ chức. Hai bàn thắng này được xếp hạng 6 trong danh sách 100 khoảnh khắc thể thao vĩ đại nhất của kênh truyền hình Channel 4 năm 2002

http://www.SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^SuperFM xí trai nhất forum ^^/Colosseum/Park/8885/MaraFeet.jpg

Thành tích thi đấu ở các CLB

CLB Số trận/Số bàn thắng

Argentinos Juniors (1976-81) 166/116

Boca Juniors (1981-82) 42/28

Barcelona (1982-84) 58/38

SSC Napoli (1984-91) 259/115

FC Sevilla (1992-93) 29/7

Newell's Old Boys (1993) 5/0

Boca Juniors (1995-1997) 29/7

Tổng cộng 588/311

Những cột mốc trong sự nghiệp thi đấu của Maradona

- 20/10/1976: Chơi trận đầu tiên ở giải VĐ Argentina cho Argentinos Juniors gặp Talleres de Córdoba.

- 14/11/1976: Ghi bàn đầu tiên trong trận gặp San Lorenzo de Mar del Plata.

- 27/2/1977: Chơi trận đầu tiên cho ĐT Argentina gặp Hungary.

- Tháng 5/1978: Cesar Menotti, HLV ĐT Argentina, không đưa tên Maradona vào danh sách 22 cầu thủ dự World Cup 1978 với lý do anh còn quá trẻ để chịu đựng được sức ép của một giải lớn.

- 2/6/1979: Ghi bàn đầu tiên cho ĐT Argentina trận gặp Scotland tại Glasgow

- 7/9/1979: Cùng Argentina giành giải trẻ VĐTG ở Nhật Bản với bàn thắng từ quả đá phạt trực tiếp trong trận CK thắng Liên Xô 3-1.

- 19/2/1981: Gia nhập Boca Juniors.

- 16/8/1981: Giành chức VĐ Argentina với Boca Juniors.

- 4/6/1982: Gia nhập Barcelona.

- 24/9/1983: Chấn thương nghiêm trọng nhất trong sự nghiệp khi bị Andoni Goicoechea, hậu vệ Athletic Bilbao, đá vỡ mắt cá chân trái.

- 30/6/1984: Gia nhập Napoli

- 22-29/6/1986: Ghi bàn thắng nổi tiếng có tên “Bàn tay của Chúa” và sau đó ghi một bàn đẹp nhất lịch sử World Cup cho Argentina ở tứ kết World Cup 1986. Dẫn dắt Argentina tới ngôi vô địch thế giới sau khi đánh bại CHLB Đức ở trận CK.

- 10/5/1987: Cùng Napoli giành chức VĐ Italia đầu tiên trong lịch sử CLB này

- 17/5/1989: Cùng Napoli giành Cúp UEFA, chiếc cúp châu Âu đầu tiên trong lịch sử CLB này.

- 17/3/1991: Bị phát hiện dương tính trong một cuộc thử doping và bị cấm thi đấu 15 tháng.

- 10/10/1993: Rời Sevilla trở về quê hương chơi cho Newell's Old Boys.

- 31/10/1993: Trở lại ĐTQG Argentina

- 2/12/1993: Chơi trận cuối cùng với Newell's gặp Huracan.

- Tháng 6/1994: Chơi hai trận trong World Cup cuối cùng và ghi một bàn thắng tuyệt vời ở trận gặp Hy Lạp trước khi bị đuổi khỏi giải vì phát hiện sử dụng chất cấm ephedrine.

- 7/10/1995: Trở lại chơi cho Boca Juniors.

- 25/10/1997: Chơi trận cuối cùng trong sự nghiệp (Boca thắng 2-1 trên sân River Plate).

- 30/10/1997: Quyết định giã từ sân cỏ đúng sinh nhật lần thứ 37.

zatakid
09-10-2008, 05:17 PM
Marcel ("Marco") van Basten

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c4/Vanbasten.jpg/240px-Vanbasten.jpg

sinh ngày 31 tháng 10 năm 1964 tại Oog in Al, Utrecht là một huấn luyện viên bóng đá người Hà Lan, người hiện đang giữ cương vị HLV trưởng CLB Ajax Amsterdam. Trước đây, ông là cầu thủ từng chơi cho Ajax Amsterdam và A.C. Milan trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Ông được xem là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất mọi thời đại với thành tích 276 bàn trong một sự nghiệp bị kết thúc khá ngắn ngủi do một chấn thương. Được biết đến với sức mạnh cùng trái bóng, kĩ năng chiến thuật nhạy bén cùng những cú sút và volley xuất sắc. Van Basten đã từng 3 lần dành danh hiệu quả bóng vàng Châu Âu (1988, 1989 và 1992) và một lần là cầu thủ xuất sắc nhất nhất thế giới của FIFA năm 1992. Ông được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc thứ 9 của thế kỉ 20 bởi IFFHS. Van Basten cũng được bầu ở vị trí thứ 8 trong cuộc bình bầu được tổ chức bởi tạp chí France Football do các cựu danh thủ từng dành quả bóng vàng Châu Âu bình chọn cầu thủ của thế kỉ.

Danh hiệu

Ajax Amsterdam

Cúp C2 châu Âu: 1987
Vô địch Hà Lan: 1982, 1983, 1985
Cúp bóng đá Hà Lan: 1983, 1986, 1987

AC Milan

Cúp C1 châu Âu: 1989, 1990
Cúp Liên lục địa: 1989, 1990
Siêu Cúp châu Âu: 1989, 1990
Vô địch Ý: 1988, 1992, 1993, 1994
Siêu Cúp Ý: 1988, 1992, 1993

Đội tuyển Hà Lan
Vô địch châu Âu: 1988

Cá nhân

1984
Vua phá lưới Hà Lan: (28 bàn thắng)
Chiếc giày bạc Châu Âu: (28 bàn thắng)

1985
Cầu thủ hay nhất năm của Hà Lan
Vua phá lưới giải Hà Lan: (22 bàn thắng)

1986
Giày vàng Châu Âu: (37 bàn thắng)
Vua phá lưới Hà Lan: (37 bàn thắng)

1987
Onze d'Argent (giải bạc của tạp chí Onze Mondia, Pháp)
Vua phá lưới Hà Lan: (31 bàn thắng)
Bravo Award

1988
Vô địch Châu Âu, vua phá lưới, cầu thủ hay nhất giải: (5 bàn thắng)
Onze d'Or (giải vàng của tạp chí Onze Mondial)
Cầu thủ hay nhất năm do World Soccer bầu
Quả bóng vàng Châu Âu (France Football bầu)
Cầu thủ hay nhất thế giới do bầu IFFHS

1989
Vua phá lưới cúp Châu Âu: (10 bàn thắng)
Quả bóng vàng Châu Âu (France Football bầu)
Cây ghi bàn thứ 2 ở giải Ý: (19 bàn thắng)
Onze d'Or (giải vàng của tạp chí Onze Mondial)
Cầu thủ hay nhất năm của UEFA
Cầu thủ hay nhất thế giới do bầu IFFHS

1990
Vua phá lưới giải Ý: (19 bàn thắng)
Cầu thủ hay nhất năm của UEFA

1992
Cầu thủ hay nhất năm do World Soccer bầu
Onze d'Argent (giải bạc của tạp chí Onze Mondial)
Quả bóng vàng Châu Âu (France Football)
Vua phá lưới giải Ý: (25 bàn thắng)
Cầu thủ hay nhất năm của UEFA
Cầu thủ hay nhất thế giới của FIFA

1993
Cây ghi bàn thứ 2 ở cúp Châu Âu: (6 bàn thắng)

2004
Có tên trong FIFA 100

acmasocola
09-10-2008, 05:32 PM
Vua Bóng đá PELE

http://www.braziltravel.com/culture/soccer/pele/pele.jpeg

Pele, tên thật Edson Arantes do Nascimento

Sinh ngày 23/10/1940 tại Tres Coracoes, Brazil

Cao 1,74 m

Các CLB: Santos (1956-1974), New York Cosmos (1975-1977)

Với ĐT Brazil (1956-1971): chơi 92 trận, ghi 77 bàn

* Thành tích:

Tập thể: 10 chức vô địch bang Sao Paolo (Campeonato Paulista các năm 1958, 1960, 1961, 1962, 1964, 1965, 1967, 1968, 1969 và 1973); 3 Cúp vô địch giải liên bang Rio-Sao Paolo (Torneio Rio-Sao Paulo các năm 1959, 1963 và 1964); 1 Cúp vô địch Torneio Roberto Gomes Pedrosa (còn gọi là Taca de Prata, năm 1968); 5 chức vô địch Brazil (1961, 1962, 1963, 1964 và 1965); 2 Cúp Libertadores (1962 và 1963); 2 Cúp Liên lục địa (1962 và 1963); 1 Siêu Cúp Nam Mỹ (1968); 1 chức vô địch Bắc Mỹ (NASL Champions, năm 1977); 3 Cúp Vô địch thế giới (1958, 1962, 1970); 2 Cúp Roca (1957, 1963); 1 Cúp O'Higgins (1959); 1 Cúp Atlantica (1960).

Cá nhân: Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ năm 1973; VĐV xuất sắc nhất thế kỷ 20 của Uỷ ban Olympic Quốc tế; Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ 20 của FIFA (chung với Diego Maradona); Giải thưởng thành tựu trọn đời (Laureus World Sports Awards) của Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela năm 2000; Giải thưởng thanh tựu trọn đời dành cho Nhân vật thể thao của hãng truyền thông BBC tặng năm 2005.

Những vinh dự khác: Đại sứ sinh thái và môi trường Liên Hợp Quốc năm 1992; Đại sứ Thiện chí của UNESCO năm 1995; Tước hiệu Hiệp sĩ Anh quốc (KBE - tước hiệu cao quý thứ hai trong 5 hạng hiệp sĩ của Anh) năm 1997.


Không chỉ là vua bóng đá

Sự nghiệp của cựu danh thủ Brazil này tràn ngập những vinh quang, những bàn thắng và điều quan trọng hơn cả là mỗi trận đấu của ông là một bữa tiệc bóng đá dành cho khán giả.

Ở Brazil, Pele là một người hùng dân tộc. Ông được tôn vinh vì những thành tích và cống hiến cho môn thể thao này. Ông được chính phủ Brazil coi là tài sản quốc gia vì đã làm rạng danh đất nước. Pele cũng nổi tiếng với vai trò một nhà hoạt động xã hội khi lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với các chính sách cần phải thực hiện để cải thiện điều kiện an sinh xã hội cho người nghèo. Khi ghi bàn thứ 1.000 trong sự nghiệp, ông đã nói rằng đó là món quà tặng cho trẻ em nghèo Brazil.

Được phát hiện bởi ngôi sao bóng đá Waldemar de Brito, Pele bắt đầu chơi cho CLB bóng đá Santos khi 15 tuổi, được vào ĐTQG năm 16 tuổi và giành được Cúp VĐTG đầu tiên của mình ở tuổi 17. Bất chấp vô số đề nghị của các CLB châu Âu, ông đã ở lại với CLB của mình và chơi ở đó gần hai thập kỷ cho tới khi gần treo giầy mới sang Mỹ để thi đấu hai năm cuối với sứ mạng khai hóa bóng đá Bắc Mỹ.

http://i245.photobucket.com/albums/gg63/buontandong/Pele2.jpg

Pele chơi ở các vị trí tiền đạo lùi, trung phong và cuối sự nghiệp là tiền vệ kiến thiết bóng. Kỹ thuật siêu hạng và thể lực thiên phú của Pele đã được cả thế giới ca ngợi. Ông nổi tiếng với kỹ năng rê dắt bóng không thể ngăn chặn nổi, những đường chuyền khôn ngoan, tốc độ, khả năng sút bóng uy lực và đánh đầu giỏi hiếm có với một tiền đạo Nam Mỹ lại có chiều cao khiêm tốn. Nhưng ấn tượng chung mà ông để lại chính là khả năng săn bàn xuất sắc.
Ông là cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất lịch sử ĐTQG Brazil và là cầu thủ duy nhất có mặt trong thành phần 3 đội bóng giành World Cup (riêng World Cup 1962, Pele cũng có tên trong danh sách đội hình Brazil nhưng không thi đấu vì chấn thương và không được nhận huy chương).

Từ khi giã từ sự nghiệp thi đấu vào năm 1977, Pele trở thành đại sứ của bóng đá thế giới khi tham dự vào rất nhiều sự kiện bóng đá và không ngại đưa ra quan điểm về các vấn đề nổi cộm. Ngoài bóng đá, ông cũng tham gia vào các dự án kinh doanh và cũng đã có một thời gian đảm nhận cương vị Bộ trưởng Thể thao Brazil.

+Biệt danh Pele

Pele sinh ra ở thị trấn nghèo Tres Coracoes, bên những rặng núi ở miền duyên hải Brazil. Ông là con trai của một cầu thủ bóng đá Fluminense có biệt danh Dondinho (tên khai sinh là Joao Ramos do Bojang) và vợ Celeste.

Tên của Pele được ông bố đặt theo tên nhà phát minh người Mỹ Thomas Edison. Ban đầu ông được gia đình đặt biệt danh Dico và biệt danh vẫn chưa có "Pele" cho tới khi đi học. Biệt danh đó bắt nguồn từ việc ông phát âm tên cầu thủ mà ông yêu thích Bile, thủ môn của đội bóng địa phương Vasco da Gama, chệch thành "Pile". Và thế là các bạn học đặt luôn cho cái tên Pele để trêu trọc ông.

Ban đầu Pele không thích biệt danh này, thậm chí đã bị kỷ luật đuổi học do đấm bạn cùng lớp đã gọi mình như thế. Thế nhưng, càng phản ứng thì cái tên đó càng gắn chặt. Sau này, Pele cũng nhấn mạnh rằng ông và cả các bạn học cũ đều không hiểu cái tên đó có nghĩa gì ngoài việc nó xuất phát từ Bile, một từ chẳng hề có nghĩa gì.“Dường như Thượng đế đã đưa tôi tới Trái Đất với sứ mệnh chơi bóng”
- Pele -

Lớn lên trong nghèo khổ ở Bauru, Sao Paulo, Pele phải phụ giúp gia đình bằng cách kiếm tiền nhờ nghề đánh giầy, đặc biệt là trong những ngày ở CLB Bauru có trận đấu.

Pele bắt đầu học kỹ năng chơi bóng từ ông bố, người đã có sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp ở Atletico Mineiro kết thúc trong ác mộng do chấn thương đầu gối. Không có nổi một quả bóng tử tế, Pele tập chơi bóng với "quả bóng" đặc biệt là một chiếc tất được nhồi giấy báo vào trong và buộc túm lại hoặc một quả bưởi.


http://i245.photobucket.com/albums/gg63/buontandong/Pele-Clinton.jpg

Đội bóng đầu tiên của Pele được gọi là "đội không giầy" được lập bởi chính ông và các cậu bé khác từ phố Sete de Setembro và Rubens Arruda. Khi họ dự một giải đấu địa phương được tổ chức bởi thị trưởng Bauru mà theo quy định phải có giầy thi đấu, họ không còn đi chân đất nữa và cũng đổi tên thành Ameriquinha.
Ameriquinha vào tới trận chung kết tại sân BAC và giành chiến thắng trước sự chứng kiến của hàng nghìn khán giả. Riêng Pele đã kết thúc giải với danh hiệu vua phá lưới.

Pele được Waldemar de Brito, cựu tuyển thủ Brazil từng tham dự World Cup 1934 ở Italia, chú ý. Năm 1954, vài cầu thủ của Ameriquinha, trong đó có Pele, đã được mời gia nhập đội bóng thiếu niên Baquinho do De Brito huấn luyện. Lần đầu tiên, Pele được trả tiền để chơi bóng. Đội bóng đã giành được chức VĐ giải bóng đá trẻ 1954 được tổ chức bởi các tờ báo Diario de Bauru và Sao Paulo Sporting Gazette với đóng góp lớn của Pele (ghi 148 bàn trong 33 trận).

15 tuổi rưỡi, Pele được De Brito đưa tới Sao Paulo để gia nhập FC Santos với lời giới thiệu vô cùng ấn tượng đã gây kinh ngạc các vị lãnh đạo CLB này: “Cậu bé này sẽ là cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất thế giới”..


trích từ *********

mrspecial
09-10-2008, 06:08 PM
có lẽ đem Beckham so sánh với những huyền thoại anh em vừa post thì hơi khập khiễng, thế nhưng với những đóng góp của anh cho bóng đá, đặc biệt là giúp cho bóng đá được yêu mến hơn ở nhiều nơi trên thế giới, Beck cũng đáng có 1 chỗ trong topic chứ nhỉ...


http://i63.photobucket.com/albums/h121/thangcha_xahoiden/Beck.jpg

Chàng tiền vệ đẹp trai chơi thiên cánh phải này đã chinh phục được hàng triệu fan bóng đá trên thế giới bằng khả năng chuyền bóng siêu hạng cùng những cú đá phạt hàng rào “chết người”. Anh có những quả tạt ngang “bóng sống” từ cánh phải chính xác và “ảo thuật” đến mức thủ môn và hậu vệ đối phương chỉ còn biết đứng nhìn.Bên cạnh đó còn là 1 vẻ ngoài điển trai làm bao fan nữ phải phát điên


Sơ lược tiểu sử

Nơi sinh: Leytonstone.
Ngày sinh: 2/5/1975.
Chiều cao: 1,80 m.
Cân nặng: 67 kg.
Sự nghiệp thi đấu quốc tế: Đội tuyển Anh (37 lần khoác áo, ghi 1 bàn thắng).
Vị trí thi đấu: Tiền vệ.
Lần đầu tiên thi đấu cho Manchester Utd: 23/9/1992.
Từ 1992-2000 (trong màu áo M.U): đá 289 trận, 26 trận dự bị.
Số bàn thắng ghi được: 58.

Tóm tắt sự nghiệp thi đấu
Sau khi thử việc tại Leyton Orient và tham gia trường Đào tạo Bóng đá trẻ của Tottenham Hotspur, Beckham đã ký hợp đồng thử việc với M.U vào ngày 8/6/1991. Anh được đào tạo tại trường Năng khiếu Essex Schools của M.U. Ngày 2/4/1995, David thi đấu trận đầu tiên tại giải ngoại hạng Anh trong màu áo của M.U (Manchester Utd gặp Leeds United trên sân Old Trafford). Trước đó, vào ngày 1/11/1992 anh đã có trận ra mắt CLB M.U với tư cách là cầu thủ vào thay người khi trận đấu còn 20 phút. Đó là trận M.U thi đấu vòng 2 Rumbelows Cup 1/11/1992.

Mùa giải 1995/96 đánh dấu sự ra mắt thành công của Beckham với vị trí tiền vệ phải trong đội hình của M.U. Đây chính là mùa bóng mà đội quân của HLV Alex Ferguson đã giành được chức vô địch ngoại hạng Anh và Cup FA. Vị trí ưa thích của chàng tiền vệ đẹp trai này là tiền vệ trung tâm, nhưng anh khởi đầu sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình tại M.U trong vai trò của một tiền vệ phải là do sự ra đi của Andrei Kanchelskis (tiền vệ người Nga nổi tiếng một thời tại sân Old Trafford).

Cái tên David đã trở thành câu cửa miệng của các cổ động viên M.U sau khi anh có những bàn thắng đẹp mắt tại các trận đấu quan trọng. Tiền vệ luôn mang áo số 7 này đã ghi được một bàn trong trận M.U thắng Chelsea tại bán kết Cup FA ( mùa giải 1996). Ngoài ra, anh còn có một cú đá phạt tuyệt vời tại vòng chung kết World Cup 1998 và một bàn thắng sau cú sút từ giữa sân trong trận đấu đầu tiên mùa giải 1996/97 tại sân Wimbledon.

Sau những màn trình diễn thành công ở mùa giải 1995/96, David đã lọt vào mắt xanh của Glenn Hoddle (khi đó là huấn luyện viên đội tuyển Anh ). Beckham đã chính thức khoác áo đội tuyển Anh trong trận gặp Moldova tại Kishinev ngày 1/9/1996. Trước đó, anh cũng đã được gọi vào đội tuyển U21 quốc gia.

Phong độ thi đấu trong suốt mùa giải 1996/97 đã đánh dấu sự trưởng thành của David (David đã cùng với M.U đoạt chức vô địch ngoại hạng Anh và lọt vào đến vòng bán kết Cup FA), và kể từ đó anh trở thành một cầu thủ không thể thiếu được trong màu áo đội tuyển quốc gia cũng như câu lạc bộ M.U. Sau mùa giải 1996/97, Beckham đã được Hiệp hội bóng đá chuyên nghiệp (PFA) bầu là “Cầu thủ bóng đá trẻ xuất sắc nhấtnước Anh” và đứng thứ 2 trong danh sách “Cầu thủ xuất sắc nhất nước Anh”.

David được ông Hoddle gọi vào đội tuyển Anh tham dự vòng chung kết World Cup 1998 tại Pháp, một giải đấu đáng nhớ của Beckham. Tại France 98, David không được ra quân trong đội hình xuất phát ở 2 trận đầu, nhưng trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng gặp Colombia, Beckham đã trở thành anh hùng của “xứ sở sương mù” khi có một bàn thắng tuyệt vời từ cú đá phạt ngoài vòng cấm địa. Tuy nhiên, chỉ 4 ngày sau trong trận gặp Achentina ở vòng 2, anh lại trở thành “kẻ tội đồ” trong mắt của các cổ động viên Anh khi phạm lỗi với Simeone và bị đuổi khỏi sân.

Tháng 6/1999, David kết hôn với Victoria Adams (một thành viên của ban nhạc Spice Girls). Kết thúc mùa bóng 1998/1999, Beckham đã cùng với M.U đoạt chức vô địch ngoại hạng Anh, vô địch Cup C1, và giành Cup FA.

Beckham đã giành được danh hiệu vô địch ngoại hạng Anh lần thứ 4 liên tiếp khi mùa giải 1999/2000 kết thúc. Đồng thời, anh đứng thứ 2 trong cả hai danh sách “Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất châu Âu năm 1999” và “Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất thế giới năm 1999” (sau Rivaldo).

Bạn có biết ?

- David Beckham nhận giải thưởng “Tài năng bóng đá trẻ Bobby Charlton” khi anh mới 12 tuổi. Giải thưởng được trao tại sân Old Trafford và kèm theo một chuyến du lịch tới sân vận động Nou Camp, Barcelona.
- Chủ nhật, 22/2/1997, David Beckham đã ghi bàn thắng cân bằng tỉ số trong trận M.U gặp Chelsea với tốc độ 97 m/phút.
- Khi còn trẻ, thần tượng của Beckham chính là Glenn Hoddle.
- David đã xăm tên của con trai mình (Brooklyn) lên lưng.
- David trở thành chủ đề của một khoá học đại học được khởi xướng năm 1999.

(sưu tầm)

zatakid
10-10-2008, 11:46 AM
Marcello Lippi
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/44/Marcello_Lippi.jpg/250px-Marcello_Lippi.jpg

Tên đầy đủ Marcello Lippi
Ngày sinh 11 tháng 4, 1948 (60 tuổi)
Nơi sinh Viareggio, Ý
Chiều cao 1.73 mét
Huấn luyện viên (cựu Tiền vệ)

Từng là cầu thủ và hiện là huấn luyện viên người Ý. Sinh ra tại Viareggio phía bắc Toscana, ông là huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Ý từ 16 tháng 7 năm 2004 đến 12 tháng 7 năm 2006. Ông đã dẫn dắt đội tuyển Ý giành cup vô địch thế giới năm 2006. Sau khi giành được vinh quang cùng đội tuyển ông đã từ chức vì đã đạt được điều ông mong muốn.


Sự nghiệp cầu thủ
Ông chơi bóng chuyên nghiệp từ năm 1969 với vài trò là một tiền vệ. Ông giành hầu hết sự nghiệp của mình ở câu lạc bộ U.C. Sampdoria từ 1969-1980. Năm 1980 ông chuyển tới chơi cho A.C. Pistoiese và kết thúc sự nghiệp ở câu lạc bộ này.


Sự nghiệp huấn luyện
Sự nghiệp HLV
1982-1985 Sampdoria (đội trẻ)
1985-1986 Pontedera
1986-1987 Siena
1987-1988 Pistoiese
1988-1989 Carrarese
1989-1991 Cesena
1991-1992 Lucchese
1992-1993 Atalanta
1993-1994 Napoli
1994-1999 Juventus
1999-2000 Inter Milan
2001-2004 Juventus
2004-2006 Ý

Thành tích
Juventus
Vô địch Serie A (5): 1995, 1997, 1998, 2002, 2003
Cup Ý (1): 1995
Siêu cup Ý (4):1995, 1997, 2002, 2003
C1 (1): 1996 ,hạng 2 (3):1997, 1998, 2003
Siêu cup châu Âu (1):1996
Cup liên lục địa (1): 1996
Cup C2: Hạng 2 (1): 1995
Inter Milan
Cup Ý - hạng 2: 2000
Đội tuyển Ý
World Cup (1): 2006
Cá nhân
Huấn luyện viên hay nhât Serie A: 1997, 1998, 2003
Huấn luyện viên đội tuyển hay nhất thế giới theo IFFHS 2006
Huấn luyện viên câu lạc bộ hay nhất thế giới theo IFFHS 1996, 1998
Huấn luyện viên của năm (theo tạp chí Onze) 2007

tzboy
10-10-2008, 12:38 PM
Alex Ferguson

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/14/Alex_Ferguson.jpg/250px-Alex_Ferguson.jpg
Ngài Alexander Chapman Ferguson (sinh ngày 31 tháng 12 năm 1941 tại Govan, Glasgow) là một cựu cầu thủ và là một huấn luyện viên bóng đá người Scotland. Hiện nay, ông là huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ bóng đá Manchester United. Ông là huấn luyện viên đoạt nhiều danh hiệu nhất trong lịch sử bóng đá Anh.


Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Alexander Chapman Ferguson
Ngày sinh 31 tháng 12, 1941 (66 tuổi)
Nơi sinh Glasgow, Scotland
Vị trí Tiền đạo (đã từ giã)

Thông tin về CLB
CLB hiện nay Manchester United (Huấn luyện viên)
CLB chuyên nghiệp (1)
Năm | CLB | Số trận (số bàn thắng)*
1957–1960 | Queen's Park | 32 (11)
1960–1964 | St. Johnstone | 37 (19)
1964–1967 | Dunfermline Athletic | 88 (66)
1967–1969 | Rangers | 41 (25)
1969–1973 | Falkirk | 106 (37)
1973–1974 | Ayr United | 24 (9)
| | Tổng cộng 327 (167) (1) Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia.

Sự nghiệp HLV
1974|East Stirlingshire
1974–1978|St. Mirren
1978–1986|Aberdeen
1985–1986|Scotland
1986–|Manchester United Các danh hiệu trên cương vị huấn luyện viên

Với St. Mirren F.C.

* Giải hạng hai Scotland
o Vô địch: 1977

Với câu lạc bộ Aberdeen

* Giải bóng đá ngoại hạng Scotland
o Vô địch (3): 1979/80, 1983/84, 1984/85
o Hạng nhì (2): 1980/81, 1981/82
* Cúp bóng đá Scotland
o Vô địch (4): 1981/82, 1982/83, 1983/84, 1985/86
* Cúp liên đoàn bóng đá Scotland
o Vô địch (1): 1985/86
o Lọt vào trận chung kết (2): 1978/79, 1979/80
* Cúp C2 châu Âu
o Vô địch (1): 1982/83
* Siêu cúp châu Âu
o Vô địch (1): 1983/84

Với câu lạc bộ Manchester United

* FA Premier League
o Vô địch (10): 1992/93, 1993/94, 1995/96, 1996/97, 1998/99, 1999/00, 2000/01, 2002/03, 2006/2007, 2007/2008
* Cúp FA
o Vô địch (5): 1989/90, 1993/94, 1995/96, 1998/99, 2003/04
* League Cup
o Vô địch (2): 1991/92, 2005/06
* FA Charity Shield
o Vô địch (6): 1993, 1994, 1996, 1997, 2003, 2007
* UEFA Champions League
o Vô địch (2): 1967/1968, 1998/1999, 2007/2008
* Cúp C2 châu Âu
o Vô địch (1): 1990/91
* Siêu cúp châu Âu
o Vô địch (1): 1991/92
* Cúp Liên lục địa
o Vô địch (1): 1999

Các danh hiệu cá nhân

* Huấn luyện viên xuất sắc nhất giải ngoại hạng Anh: 1993/94, 1995/96, 1996/97, 1998/99, 1999/2000, 2002/03, 2006/07, 2007/08

Ông là một chiến lược gia đại tài. Một người hiếu thắng. Hay chỉ là một người may mắn... Tất cả đều đúng, nhưng không thể tách rời, mà luôn bổ trợ cho nhau và góp phần giúp Fergie có 20 năm thành công ở CLB áo đỏ thành Manchester. Ông mới kỷ niệm "điểm mốc lịch sử (http://vnexpress.net/GL/The-thao/2006/11/3B9F0110/)" hôm 6/11.

Nhà cầm quân hiếu thắng. Nói cách khác, Ferguson không bao giờ muốn "sống chung với thất bại" - như chính ông thừa nhận. Đây có lẽ là cá tính điển hình và dễ nhận thấy nhất ở HLV người Scotland. Vì điều đó biểu hiện ngay trong lối sống, từng hành động và lời nói của ông. Khi đội nhà ghi bàn hay giành chiến thắng, Ferguson luôn nhảy cẫng lên ăn mừng. Còn khi thua, trên gương mặt ông là sự thất vọng chảy dài, thậm chí là cáu bẳn (thế nên mới có vụ "chiếc giày bay (http://vnexpress.net/GL/The-thao/2003/02/3B9C523C/)" vào mặt Beckham, khi MU để thua Arsenal ở vòng 5 Cup FA năm 2003).
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/9E/FF/E8/f1.jpg
Ferguson và nụ cười chiến thắng. Ảnh: BBC.
Không dừng ở đó, nhiều người còn cho rằng Ferguson bị ám ảnh bởi sự hiếu thắng. Nhưng có lẽ, đó cũng chính là lý do biến ông trở thành một HLV thành công như hiện nay. Mang "nỗi ám ảnh" ấy, Fergie truyền vào các học trò, dạy họ cách thi đấu bằng khát khao chiến thắng mãnh liệt. Và chính vì điều này mà không ít lần "Quỷ đỏ" thành Manchester đã làm nên những cuộc lội ngược dòng lịch sử, nhờ những bàn thắng muộn đến chẳng ai ngờ.
Một công nhân. Trước khi đến với trái bóng một cách chuyên nghiệp, Ferguson từng trải qua những năm tháng làm việc khá vất vả trong xưởng đóng tàu của người cha. Chính quãng thời gian làm việc như "một công nhân đích thực" ấy đã ảnh hưởng nhiều đến tư duy và phong thái làm việc của ông sau này. Chẳng cần biết những cậu học trò của mình là "sao" phương nào, trên sân cỏ, Fergie luôn đòi hỏi họ - những Giggs, Rooney, Ronaldo hay trước đây là Beckham, Nistelrooy - phải tập luyện và thi đấu cần mẫn, chăm chỉ như những người công nhân.
Và chính phẩm chất này đã giúp Ferguson hiểu rất rõ giá trị của đồng tiền. Trong mỗi thương vụ ông luôn cố gắng hạn chế đến mức tối đa sự lãng phí. Dù bị cho là "hớ" trong việc mua Milner, Poborsky hay Veron, nhưng sẽ chẳng bõ bèn gì nếu đem so với những thương vụ thành công về cả phương diện tiền bạc lẫn chuyên môn như: Cantona, Schmeichel, Solskjaer, Johnsen, Irwin, Sharpe hay Kanchelskis. Hai trong số những cầu thủ đóng góp nhiều nhất cho thành công của MU vào những năm 90, Cantona và Schmeichel, mỗi người có giá chỉ chưa đầy 2 triệu bảng. Còn khi phải bỏ ra một khoản tiền lớn, Fergie luôn toan tính để có được những "món hàng" tương xứng như: Pallister, Keane, Cole, Yorke, Stam hay Nistelrooy, Rooney.
Chiến lược gia. MU là đội bóng Anh đầu tiên sử dụng lối đá phản công chớp nhoáng. Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, Ferguson đã xây dựng cho đội bóng của ông một lối chơi tấn công bùng nổ, hoa mỹ nhưng hiệu quả trên nền một hàng thủ vững chắc, những cầu thủ chạy cánh khôn ngoan và hàng công sắc sảo. Khi Champions League ra đời năm 1992, cũng là lúc Ferguson bắt đầu tìm cách để đối chọi với các đội bóng châu Âu. Có lúc MU của ông chơi 4-4-2, rồi 4-5-1 hay 4-3-3. Có lúc thành công, có lúc thất bại. Nhưng chỉ nội khả năng tìm tòi, hướng đến sự đa dạng trong lối chơi thôi cũng đủ để biến ông trở thành một trong những chiến lược gia tài ba nhất của làng bóng đá Anh.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/9E/FF/E8/f2.jpg
Với tầm nhìn xa trông rộng của một chiến lược gia, Ferguson thậm chí đã "dẹp" luôn đội hình hùng mạnh từng giành "cú đúp" năm 1994 để tạo cơ hội cho lứa cầu thủ trẻ. Vì theo ông "những cầu thủ trẻ như Beckham và Scholes đều là những tài năng xuất chúng. Họ cần được trải nghiệm để trở nên mạnh mẽ hơn". Khi Fergie nói điều này trước đây, có nhiều người cho rằng: "Ông ta bị mất trí rồi". Nhưng cuối cùng, ông đã thành công khi đặt niềm tin vào lứa cầu thủ này.
Chuyên gia tâm lý. Bóng đá là một môn thể thao giải trí nhưng những người chơi trong đó lại chịu rất nhiều sức ép. Điều này đòi hỏi các HLV phải tự biến mình thành những nhà tâm lý. Và Alex Ferguson có lẽ là bậc thày trong lĩnh vực này.
Ông biết phải làm gì, như thế nào và vào lúc nào để có được hiệu quả tối ưu nhất. Chúng ta hãy nhớ lại những từ ngữ rất có sức thuyết phục mà Fergie đã nói với các học trò vào giờ nghỉ giữa hiệp trong trận chung kết kinh điển Champions League năm 1999, thời điểm MU bị Bayern Munich dẫn 0-1: "Nếu cứ thi đấu như thế này, đến cuối trận các cậu sẽ phải đứng cách chiếc Cup một quãng ngắn mà không được phép chạm vào nó. Với nhiều người trong số chúng ta, đây sẽ là cơ hội thuận lợi nhất để giành chiếc Cup danh giá này. Bởi vậy, hưng phấn lên nào. Có dám chiến thắng không?". Trận này, MU thắng ngược 2-1 nhờ hai bàn thắng vào vài phút cuối trận.
Rồi cái cách ông giải mối bất hoà giữa Ronaldo và Rooney, nảy sinh trong trận tứ kết World Cup 2006, cũng là một minh chứng điển hình. Hiện nay, khi nhìn hai cầu thủ này chơi bóng cùng nhau, cười đùa và thân thiết, ít có thể tin rằng trước đó họ từng coi nhau như kẻ thù trong một thời gian ngắn.
Một người bản lĩnh. Nhờ yếu tố này Fergie mới có thể đứng trước áp lực và sóng gió dư luận để đưa ra những quyết định có tính mạo hiểm hay đưa các học trò vượt qua những thời khắc khó khăn. Chính ông đã giúp Giggs tránh khỏi sự nhòm ngó của giới truyền thông, quyết liệt bảo vệ Cantona khi tiền đạo người Pháp gặp rắc rối (bị treo giò 8 tháng vì đạp vào một CĐV), bênh vực Beckham khi tiền vệ chạy cánh này gặp sự cố ở World Cup 1998, hay mới đây nhất là chuyện của Ronaldo và Rooney.
Người may mắn. Đây là yếu tố mà chính Ferguson, trong lễ mừng "Cú ăn ba" lịch sử ở sân Old Trafford năm 1999, cũng đã tự thừa nhận.

zatakid
13-10-2008, 11:30 AM
Paolo Maldini (sinh ngày 26 tháng 6 năm 1968 tại Milano, Ý) là một cầu thủ bóng đá người Ý. Anh là con trai của Cesare Maldini – cựu cầu thủ của A.C. Milan và cựu huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Ý. Maldini là một hậu vệ và thường chơi ở vị trí cánh trái (tất nhiên anh cũng chơi tốt ở cả vị trí cánh phải). Đôi khi anh làm hậu vệ trung tâm. Trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình anh chỉ chơi cho một câu lạc bộ duy nhất đó là A.C. Milan, nơi hiện anh đang giữ chức đội trưởng và nhiều lần khoác áo câu lạc bộ (cũng như bất kì cầu thủ nào khác ở Serie A) sau thành tích 512 lần của Franco Baresi.

Maldini được yêu mến ở khắp nơi như một người hậu vệ vĩ đại và đã đạt đỉnh cao của sự nghiệp. Anh nổi tiếng là người đội trưởng có ảnh hưởng lớn, tính tình trầm tĩnh, cả trong lối chơi và là một hậu vệ hoàn mỹ. Anh vẫn đang chơi tại các giải đấu cao nhất. Tài năng của anh đã được khẳng định khi anh liên tiếp dành được nhiều giải thưởng quan trọng, có thể kể: Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 1994 do World Soccer bình chọn, thành viên của đội hình thế giới FIFPro năm 2005, danh hiệu hậu vệ xuất sắc nhất UEFA Champions League 2004-2005, đứng thứ hai trong cuộc bình chọn đôi chân vàng năm 2005, một trong 10 cầu thủ xuất sắc nhất năm 2005 do FIFA bầu chọn.

Sự nghiệp
Trận đấu đầu tiên của Maldini tại Serie A là vào ngày 20 tháng 1, 1985 đấu với Udinese.Từ đó đến nay anh có một sự nghiệp sáng chói, dành nhiều thành tích với câu lạc bộ Milan (Đến năm 2005, bao gồm bảy danh hiệu Serie A và bốn cúp châu Âu). Maldini là cầu thủ của đội hình "trong mơ" không thể bị đánh bại của A.C. Milan cuối thập kỷ 1980 đầu thập kỷ 1990.

Maldini là cầu thủ, đội trưởng có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia Ý nhiều nhất trong sự nghiệp thi đấu quốc tế. Tuy nhiên, anh không bao giờ dẫn dắt đội tuyển Ý chiến thắng trong các giải đấu quốc tế như trận chung kết cúp bóng đá thế giới 1994 và chung kết cúp vô địch Châu Âu 2000. Anh giã từ đội tuyển quốc gia sau cúp bóng đá thế giới 2002 kết thúc một sự nghiệp thi đấu thành công với 126 lần khoác áo đội tuyển quốc gia và ghi được 7 bàn thắng (64 lần khoác áo đội tuyển quốc gia trong vai trò đội trưởng). Maldini cũng là cầu thủ tham dự các kỳ World Cup từ năm 1990 đến năm 1998 (được dẫn dắt bởi bố anh, Cesare), Euro 88, và Euro 1996.

Maldini cũng thiết lập hai thành tích mới tai chung kết giải UEFA Champions League 2005 khi có bàn thắng chỉ sau 51 giây trong trận đấu với Liverpool F.C. tại Istanbul và là cầu thủ lớn tuổi nhất ghi được bàn thắng trong một trận chung kết Champions League. Anh đã cân bằng kỉ lục dự 5 trận chung kết cúp C1 với cầu thủ Gento (Real Madrid) và đạt được 5 chiếc cúp C1

Maldini mới đây đã phá vỡ thành tích của Dino Zoff về số lần thi đấu tại Serie A, với lần thi đấu thứ 571 trong trận đấu với Treviso F.B.C.. Anh cũng chơi trận đấu thứ 800 của mình tại tất cả trận đấu cho A.C.Milan. Tháng 11 năm 2005, anh thông báo kế hoạch giã từ sự nghiệp thi đấu bóng đá chuyên nghiệp của mình sau khi kết thúc mùa giải thi đấu 2006/2007, tuy nhiên anh có thể quyết định lại nếu anh vẫn duy trì được phong độ của mình. Hợp đồng của anh với Milan kết thúc năm 2008.

Khi anh giã từ bóng đá chuyên nghiệp không có cầu thủ nào được khoác chiếc ao số 3. Chỉ có con trai của anh khi chơi bóng đá chuyên nghiệp thi đấu cho A.C. Milan trong tương lai sẽ mang số này.

Maldini là hậu vệ đầu tiên chiến thắng trong World Soccer's World Player of the Year Award, danh hiệu đặt anh ngang hàng với Michel Platini, Paolo Rossi và Zico.

Cuối mùa bóng 2007 - 2008, một mùa bóng bê bết của Milan, trái với những phát biểu ban đầu của Maldini và dự đoán của báo giới, anh đã ký tiếp 1 hợp đồng với đội bóng sọc đỏ đen đến năm 2009 (41 tuổi)

Thông tin thêm
Maldini có hai người con trai, Christian và Daniel, với người vợ Venezuela Adriana Fossa. Christian tham gia đội trẻ Milan khi lên 9 tuổi và tiếp tục sự nghiệp của Maldini tại câu lạc bộ
Những chữ cái trong họ của anh có thể được sắp xếp lại tạo thành từ Di Milan ("Của Milan").Maldini là một người dân Milan chính gốc.
Maldini nói anh sẽ giã từ sự nghiệp khi anh có trận đấu thứ 1000 với AC Milan nếu anh còn sung sức.
Cùng với Franco Baresi, Maldini là cầu thủ khác của AC Milan mà số áo anh thường mặc (số 3) sẽ được tôn vinh và vĩnh viễn không bao giờ được đem ra sử dụng khi anh từ giã sự nghiệp sân cỏ. Trừ khi con trai của anh Christian sẽ ra nhập AC Milan.

Các danh hiệu

Với AC Milan
Serie A
Vô địch (7): 1988, 1992, 1993, 1994, 1996, 1999, 2004.
UEFA Champions League
Vô địch (5): 1989, 1990, 1994, 2003, 2007
Siêu cúp châu Âu
Vô địch (4): 1989, 1990, 1994, 2003
Cúp Liên lục địa
Vô địch (2): 1989, 1990.2007
Cúp bóng đá Ý
Vô địch (1): 2003
Siêu cúp bóng đá Ý
Vô địch (5): 1988, 1992, 1993, 1994, 2005

Với Đội tuyển Ý
Giải vô địch bóng đá thế giới
Hạng nhì: World Cup 1994
Hạng ba: World Cup 1990
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Hạng nhì: Euro 2000

Danh hiệu cá nhân
Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 1994 do tạp chí World Soccer bầu chọn.
Nằm trong danh sách FIFA 100 (125 cầu thủ vĩ đại nhất, được bầu chọn bởi Pelé): 2004

Sự nghiệp
Tính đến mùa giải 2006-2007 [/I]
Mùa giải Đội Giải Giải trong nước 1 Thi đấu quốc tế 2 Tổng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn

1984-85 AC Milan Serie A 1 0 - - 1 0
1985-86 AC Milan Serie A 27 0 6 0 33 0
1986-87 AC Milan Serie A 29 1 - - 29 1
1987-88 AC Milan Serie A 26 2 2 0 28 2
1988-89 AC Milan Serie A 26 0 7 0 33 0
1989-90 AC Milan Serie A 30 1 8 0 38 1
1990-91 AC Milan Serie A 26 4 4 0 30 4
1991-92 AC Milan Serie A 31 3 - - 31 3
1992-93 AC Milan Serie A 31 2 10 1 41 3
1993-94 AC Milan Serie A 30 1 10 1 40 2
1994-95 AC Milan Serie A 29 2 11 0 40 2
1995-96 AC Milan Serie A 30 3 8 0 38 3
1996-97 AC Milan Serie A 26 1 6 0 32 1
1997-98 AC Milan Serie A 30 0 - - 30 0
1998-99 AC Milan Serie A 31 1 - - 31 1
1999-00 AC Milan Serie A 27 1 6 0 33 1
2000-01 AC Milan Serie A 31 1 14 0 45 1
2001-02 AC Milan Serie A 15 0 4 0 19 0
2002-03 AC Milan Serie A 29 2 19 0 48 2
2003-04 AC Milan Serie A 30 0 9 0 39 0
2004-05 AC Milan Serie A 33 0 13 1 46 1
2005-06 AC Milan Serie A 14 2 9 0 23 2
2006-07 AC Milan Serie A 5 0 1 0 6 0
__________________________________________________ _______________
Tổng 587 27 147 3 734 30

zatakid
13-10-2008, 11:35 AM
Paolo Maldini
http://baobongda.com.vn/images/stories/0308/Tinnong/PaoloMaldini1400.jpg

Paolo Maldini ( 1m86.Sinh ngày 26 tháng 6 năm 1968 tại Milano, Ý) là một cầu thủ bóng đá người Ý. Anh là con trai của Cesare Maldini – cựu cầu thủ của A.C. Milan và cựu huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Ý. Maldini là một hậu vệ và thường chơi ở vị trí cánh trái (tất nhiên anh cũng chơi tốt ở cả vị trí cánh phải). Đôi khi anh làm hậu vệ trung tâm. Trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình anh chỉ chơi cho một câu lạc bộ duy nhất đó là A.C. Milan, nơi hiện anh đang giữ chức đội trưởng và nhiều lần khoác áo câu lạc bộ (cũng như bất kì cầu thủ nào khác ở Serie A) sau thành tích 512 lần của Franco Baresi.

Maldini được yêu mến ở khắp nơi như một người hậu vệ vĩ đại và đã đạt đỉnh cao của sự nghiệp. Anh nổi tiếng là người đội trưởng có ảnh hưởng lớn, tính tình trầm tĩnh, cả trong lối chơi và là một hậu vệ hoàn mỹ. Anh vẫn đang chơi tại các giải đấu cao nhất. Tài năng của anh đã được khẳng định khi anh liên tiếp dành được nhiều giải thưởng quan trọng, có thể kể: Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 1994 do World Soccer bình chọn, thành viên của đội hình thế giới FIFPro năm 2005, danh hiệu hậu vệ xuất sắc nhất UEFA Champions League 2004-2005, đứng thứ hai trong cuộc bình chọn đôi chân vàng năm 2005, một trong 10 cầu thủ xuất sắc nhất năm 2005 do FIFA bầu chọn.

http://images.timnhanh.com/tintuc/20080408/medium/maldini1cs_1207639076.jpg
Sự nghiệp
Trận đấu đầu tiên của Maldini tại Serie A là vào ngày 20 tháng 1, 1985 đấu với Udinese.Từ đó đến nay anh có một sự nghiệp sáng chói, dành nhiều thành tích với câu lạc bộ Milan (Đến năm 2005, bao gồm bảy danh hiệu Serie A và bốn cúp châu Âu). Maldini là cầu thủ của đội hình "trong mơ" không thể bị đánh bại của A.C. Milan cuối thập kỷ 1980 đầu thập kỷ 1990.

Maldini là cầu thủ, đội trưởng có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia Ý nhiều nhất trong sự nghiệp thi đấu quốc tế. Tuy nhiên, anh không bao giờ dẫn dắt đội tuyển Ý chiến thắng trong các giải đấu quốc tế như trận chung kết cúp bóng đá thế giới 1994 và chung kết cúp vô địch Châu Âu 2000. Anh giã từ đội tuyển quốc gia sau cúp bóng đá thế giới 2002 kết thúc một sự nghiệp thi đấu thành công với 126 lần khoác áo đội tuyển quốc gia và ghi được 7 bàn thắng (64 lần khoác áo đội tuyển quốc gia trong vai trò đội trưởng). Maldini cũng là cầu thủ tham dự các kỳ World Cup từ năm 1990 đến năm 1998 (được dẫn dắt bởi bố anh, Cesare), Euro 88, và Euro 1996.

Maldini cũng thiết lập hai thành tích mới tai chung kết giải UEFA Champions League 2005 khi có bàn thắng chỉ sau 51 giây trong trận đấu với Liverpool F.C. tại Istanbul và là cầu thủ lớn tuổi nhất ghi được bàn thắng trong một trận chung kết Champions League. Anh đã cân bằng kỉ lục dự 5 trận chung kết cúp C1 với cầu thủ Gento (Real Madrid) và đạt được 5 chiếc cúp C1

Maldini mới đây đã phá vỡ thành tích của Dino Zoff về số lần thi đấu tại Serie A, với lần thi đấu thứ 571 trong trận đấu với Treviso F.B.C.. Anh cũng chơi trận đấu thứ 800 của mình tại tất cả trận đấu cho A.C.Milan. Tháng 11 năm 2005, anh thông báo kế hoạch giã từ sự nghiệp thi đấu bóng đá chuyên nghiệp của mình sau khi kết thúc mùa giải thi đấu 2006/2007, tuy nhiên anh có thể quyết định lại nếu anh vẫn duy trì được phong độ của mình. Hợp đồng của anh với Milan kết thúc năm 2008.

Khi anh giã từ bóng đá chuyên nghiệp không có cầu thủ nào được khoác chiếc ao số 3. Chỉ có con trai của anh khi chơi bóng đá chuyên nghiệp thi đấu cho A.C. Milan trong tương lai sẽ mang số này.

Maldini là hậu vệ đầu tiên chiến thắng trong World Soccer's World Player of the Year Award, danh hiệu đặt anh ngang hàng với Michel Platini, Paolo Rossi và Zico.

Cuối mùa bóng 2007 - 2008, một mùa bóng bê bết của Milan, trái với những phát biểu ban đầu của Maldini và dự đoán của báo giới, anh đã ký tiếp 1 hợp đồng với đội bóng sọc đỏ đen đến năm 2009 (41 tuổi)

Thông tin thêm
Maldini có hai người con trai, Christian và Daniel, với người vợ Venezuela Adriana Fossa. Christian tham gia đội trẻ Milan khi lên 9 tuổi và tiếp tục sự nghiệp của Maldini tại câu lạc bộ
http://ngoisao.net/news/the-thao/2006/11/3b9bb3be/ma1.jpg
Maldini cùng người vợ anh quen trong hộp đêm
Những chữ cái trong họ của anh có thể được sắp xếp lại tạo thành từ Di Milan ("Của Milan").Maldini là một người dân Milan chính gốc.
Maldini nói anh sẽ giã từ sự nghiệp khi anh có trận đấu thứ 1000 với AC Milan nếu anh còn sung sức.
Cùng với Franco Baresi, Maldini là cầu thủ khác của AC Milan mà số áo anh thường mặc (số 3) sẽ được tôn vinh và vĩnh viễn không bao giờ được đem ra sử dụng khi anh từ giã sự nghiệp sân cỏ. Trừ khi con trai của anh Christian sẽ ra nhập AC Milan.

Các danh hiệu

Với AC Milan
Serie A
Vô địch (7): 1988, 1992, 1993, 1994, 1996, 1999, 2004.
UEFA Champions League
Vô địch (5): 1989, 1990, 1994, 2003, 2007
Siêu cúp châu Âu
Vô địch (4): 1989, 1990, 1994, 2003
Cúp Liên lục địa
Vô địch (2): 1989, 1990.2007
Cúp bóng đá Ý
Vô địch (1): 2003
Siêu cúp bóng đá Ý
Vô địch (5): 1988, 1992, 1993, 1994, 2005

Với Đội tuyển Ý
Giải vô địch bóng đá thế giới
Hạng nhì: World Cup 1994
Hạng ba: World Cup 1990
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Hạng nhì: Euro 2000

Danh hiệu cá nhân
Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 1994 do tạp chí World Soccer bầu chọn.
Nằm trong danh sách FIFA 100 (125 cầu thủ vĩ đại nhất, được bầu chọn bởi Pelé): 2004

Sự nghiệp
Tính đến mùa giải 2006-2007 [/I]
Mùa giải Đội Giải Giải trong nước 1 Thi đấu quốc tế 2 Tổng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn

1984-85 AC Milan Serie A 1 0 - - 1 0
1985-86 AC Milan Serie A 27 0 6 0 33 0
1986-87 AC Milan Serie A 29 1 - - 29 1
1987-88 AC Milan Serie A 26 2 2 0 28 2
1988-89 AC Milan Serie A 26 0 7 0 33 0
1989-90 AC Milan Serie A 30 1 8 0 38 1
1990-91 AC Milan Serie A 26 4 4 0 30 4
1991-92 AC Milan Serie A 31 3 - - 31 3
1992-93 AC Milan Serie A 31 2 10 1 41 3
1993-94 AC Milan Serie A 30 1 10 1 40 2
1994-95 AC Milan Serie A 29 2 11 0 40 2
1995-96 AC Milan Serie A 30 3 8 0 38 3
1996-97 AC Milan Serie A 26 1 6 0 32 1
1997-98 AC Milan Serie A 30 0 - - 30 0
1998-99 AC Milan Serie A 31 1 - - 31 1
1999-00 AC Milan Serie A 27 1 6 0 33 1
2000-01 AC Milan Serie A 31 1 14 0 45 1
2001-02 AC Milan Serie A 15 0 4 0 19 0
2002-03 AC Milan Serie A 29 2 19 0 48 2
2003-04 AC Milan Serie A 30 0 9 0 39 0
2004-05 AC Milan Serie A 33 0 13 1 46 1
2005-06 AC Milan Serie A 14 2 9 0 23 2
2006-07 AC Milan Serie A 5 0 1 0 6 0
__________________________________________________ _______________
Tổng 587 27 147 3 734 30

870: Paolo Maldini đã có 870 trận cho Milan trong tổng số 1.009 lần ra sân trong sự nghiệp.
618: Maldini là cầu thủ ra sân nhiều nhất ở Serie A, với 618 trận (29 bàn).

SuperFM
13-10-2008, 07:52 PM
Xin phép được tiếp theo với Ronaldo - người ngoài hành tinh :D.

Ronaldo Luis Nazário de Lima sinh 18 tháng 9 năm 1976 tại Rio de Janeiro), thường được biết với tên Ronaldo, là một cầu thủ bóng đá người Brasil. Hiện anh là cầu thủ tự do sau khi chấm dứt hợp đồng với câu lạc bộ Ý A.C. Milan. Ronaldo có biệt danh là "Người ngoài hành tinh" . Vua bóng đá Pelé đã xếp Ronaldo vào danh sách 125 cầu thủ còn sống xuất sắc nhất tháng 3 năm 2004. Năm 1999, tạp chí World Soccer xếp anh đứng hạng 9 trong danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế kỉ 20. Năm 2007 tạp chí France Football đã bầu anh vào đội hình 11 cầu thủ giỏi nhất mọi thời đại.

Ở vị trí tiền đạo, Ronaldo có được nhiều thành công trên đấu trường quốc tế: vô địch World Cup 1994 và World Cup 2002 cùng đội tuyển Brasil. Với 15 bàn thắng qua 3 kì World Cup, Ronaldo đang giữ kỉ lục ghi bàn tại đấu trường bóng đá lớn nhất này. Anh cùng với Zinedine Zidane là hai cầu thủ có nhiều danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA nhất với 3 lần (Ronaldo được giải này vào các năm 1996, 1997 và 2002). Anh cũng có 2 Quả bóng vàng châu Âu trong bộ sưu tập giải thưởng cá nhân của mình.

Hình ảnh cuối cùng của Ronaldo gần đây trong màu áo Milan
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-04-15/doannsRonaldo1.jpg


Danh hiệu cá nhân
Cho đến nay, Ronaldo vẫn là cầu thủ trẻ nhất từng đoạt danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu
Cho đến nay, Ronaldo vẫn là cầu thủ trẻ nhất từng đoạt danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu

* Vua phá lưới World Cup 2002
* Giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA do các huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia bầu chọn các năm 1996 (trẻ nhất), 1997, 2002, Á quân giải này năm 1998, hạng 3 giải này năm 2003
* Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới các năm: 1996, 1997, 2002
* Giải Quả bóng vàng châu Âu do các phóng viên thể thao châu Âu bầu chọn các năm 1997, 2002
* Bóng Onze: 1997, 2002
* Cầu thủ xuất sắc nhất UEFA: 1998
* Chiếc giày vàng châu Âu: 1997
* Vua phá lưới Copa America 1997
* Vua phá lưới La Liga: 1996-1997, 2003-2004
* Vua phá lưới giải vô địch Hà Lan: 1994-1995
* Cầu thủ trong năm: 2002
* Chiếc giày vàng: 2006

[sửa] Tại World Cup

* Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong các kỳ World Cup: 15 bàn sau 19 trận, 3 kỳ.
* 2006: Chiếc giày đồng (3 bàn thắng, 1 đường chuyền quyết định)
* 2002: Vua phá lưới (8 bàn thắng)
* 2002: Quả bóng bạc
* 2002: Đoạt chức vô địch
* 1998: Quả bóng Vàng
* 1998: Chiếc giày đồng (4 bàn thắng, 4 đường chuyền quyết định)
* 1994: Đoạt chức vô địch (trong đội hình dự bị)

[sửa] Tại Cúp châu lục và quốc gia

* Brazilian Cup: Cruzeiro 1993
* Dutch Cup: PSV Eindhoven 1996
* Cup Winners' Cup: FC Barcelona 1997
* Confederations Cup: 1997
* Copa América: 1997, 1999
* UEFA Cup: Internazionale 1998
* Intercontinental Cup: Real Madrid 2002
* European Super Cup: Real Madrid 2002
* La Liga - Primera División champions: Real Madrid 2002/2003
* Spanish Super Cup: FC Barcelona 1996, Real Madrid 2003

billyjones
13-10-2008, 08:00 PM
Peter Schmeichel
http://www.manutd.com.vn/attachments/1890f0da1a62a16f2f251b52135db2f2-smech.jpg


Ngày sinh: 18/11/1963
Ngày ra mắt đội một: 17/8/1991 và Notts C (H) tại First Division
Tổng số trận giữ sạch lưới: 180
Tổng số bàn thắng: 2
Tổng số trận thi đấu: 398
Vị trí: Thủ môn
Ngày rời United: 27/05/1999
Quốc tịch: Đan Mạch

Peter Schmeichel là người ở bên ngoài câu hỏi "Ai là thủ môn xuất sắc nhất trong lịch sử của câu lạc bộ Manchester United?" Mặc dù trong thực tế việc so sánh từ xưa đến nay hay từ lúc câu lạc bộ thành lập đến bây giờ là rất khó khăn, tuy nhiên có thể nói "người Đan Mạch khổng lồ" hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu cao quý đó.

Sinh ra ở Gladsaxe, Đan Mạch, anh đã là một cổ động viên của United khi còn bé và thần tượng của anh là thủ môn ở thập niên 80: Gary Bailey. Anh bắt đầu chơi bóng ở một vị trí không một người hâm mộ nào có thể tin được, đó là vị trí tiền đạo, nơi của những chân sút hàng đầu hiện nay đang ngự trị. Nhưng tài năng của một thủ môn bẩm sinh thực sự đã trỗi dậy rất sớm, anh trở thành thủ môn chuyên nghiệp và chơi cho đội bóng địa phương rồi sau đó chuyển đến Brondby để được tham gia giải đấu cao nhất của Copenhagen.

Anh là một nhà vô địch trong việc cản phá các cú sút tầm xa, đặc biệt là hiếm khi bị thua từ ngoài vòng cấm địa trong sự nghiệp ở United. Không chỉ có vậy ,với những cú sút gần anh cũng thực sự có thể khống chế tốt. Theo các nhà phân tích thể thao, chiều cao và cơ thể đồ sộ của anh là một ưu thế trời cho và điều đó đã khiến anh có được lợi thế trong các pha cản phá.

Schmeichel mang lại sự tin tưởng không chỉ cho đồng đội mà cho cả các cổ động viên. Cũng như là trở thành một thủ môn tuyệt vời nhất, anh cũng là một người "ồn ào" nhất trên sân bóng. Anh luôn trút nỗi giận dữ lên đầu các hậu vệ, những người phối hợp với anh ở hàng phòng ngự nếu nghĩ họ mắc lỗi, giọng hét của anh có lẽ còn có thể giống như tiếng còi xuyên suốt nhắc nhở cả đội. Chính điều đó đã làm nên khả năng điều khiển hàng thủ của người khổng lồ Đan Mạch.

Alex Ferguson đã tìm thấy tiềm năng của một thủ môn hàng đầu thế giới và mang anh về Old Trafford tháng 8 năm 1991 với một cái giá là 500.000 bảng Anh. Một cuộc đầu tư sinh lời không thể đếm xiết của câu lạc bộ. Người đàn ông cao lớn này đã giải quyết những khó khăn đó và những thành tích tuyệt vời đến rất sớm: League Cup 1992, Premier League 1993, 1994, 1996, 1997. Và tuyệt vời nhất chắc chắn là cú ăn ba lịch sử năm 1999.

Anh quyết định rời nước Anh vào cuối mùa giải năm 1999 bởi vì với 60 trận liên tục không có nghỉ đông đã làm kiệt sức một thủ môn huyền thoại, và anh cũng đã bước sang tuổi 35, một lứa tuổi được coi là "hết hạn" với bóng đá đỉnh cao. Tuy đã rời xa sân cỏ, nhưng anh vẫn không từ bỏ bóng đá và quyết định trở thành một nhà bình luận thể thao.

Không có một cầu thủ nào có thể mong muốn có được những thành tích tốt hơn như vậy khi rời Quỷ Đỏ. Mọi người nói rằng Peter chắc chắn đáng được hưởng 12 điểm một mùa giải ở Manchester United. Anh là người cuối cùng của hàng phòng ngự, một hòn đá tảng góp công lớn xây dựng nên một đế chế hùng mạnh. Trong 9 năm, người đàn ông này đã là một phần trong hình ảnh của Man United. Bên cạnh những tên tuổi thành danh trên thế giới như Shilton, Zoff, Banks, Jennings và Yashin, Peter Schmeichel sẽ luôn luôn và mãi mãi được coi là một thủ môn xuất sắc nhất mà bóng đá thế giới đã từng sản sinh.

billyjones
13-10-2008, 08:25 PM
Có thể nói con đường đi của chàng trai này luôn trải đầy hoa gấm , anh không gặp chút mảy may rủi ro nào trong sự nghiệp cũng như cuộc đời của mình. Sinh ra tại Valez-Malaga vào ngày 23/3/1968 với tên đầy đủ là Fernando Ruiz Hierro . Gia nhập CLB Valladolid và chơi chính thức cho CLB này trong 2 mùa bóng 87-88 và 88-89 anh đã có 58 lần ra sân và nổi lên là một hậu vệ thép , nỗi khiếp sợ của các tiền đạo khi đối mặt với anh . Với thành tích này anh lọt vào mắt xanh của đội bóng hoàng gia Real Madrid và anh được CLB này đem về vào mùa bóng 1989-1990 , bắt đầu từ lúc này cái tên Hierro bắt đầu được chú ý nhiều hơn trước.
Mùa bóng đầu tiên ở đội bóng mới anh thi đấu khá thành công và ghi được cho RM 7 bàn thắng từ những pha lên tham gia tấn công và giúp Real Madrid vươn lên vị trí số một giải vô địch quốc gia TBN. Mùa giải tiếp theo sự vững chắc trong phòng ngự và hiệu quả trong tấn công đã làm BHL của "Những con kền kền trắng" đặt ra câu hỏi : "Liệu để anh ta đá ở vị trí hậu vệ là tốt nhất chưa nhỉ ?" , mùa bóng 1991 - 1992 anh được xếp đá ở vị trí tiền vệ phòng ngự và bằng khả năng tổ chức phòng ngự từ xa , tấn công hoàn hảo qua những cú đá phạt và những đường chuyền khéo léo , thông minh anh giúp Real giành vị trí á quân và anh ghi được cho Real 21 bàn thắng , một con số khiến các tiền đạo cũng phải mơ ước.Mùa bóng 1992-1993 anh cùng Real giữ vững vị trí thứ hai và đoạt được Cúp nhà vua Tây Ban Nha.Cứ thế , với sức mạnh và kỹ thuật vốn có anh cứ đều đều ra sân , đều đều ghi bàn .Trở lại với vị trí hậu vệ quen thuộc vào mùa bóng 1994-95 anh cùng Real có chức vô địch quốc gia TBN lần thứ hai.
Mùa bóng 1996-97 là mùa bóng anh đạt đỉnh cao của phong độ và tích luỹ được vô số kinh nghiệm , anh lại cùng Real Madrid bước lên bục nhận chức vô địch TBN .Mùa bóng kế tiếp tuy Real Madrid kết thúc với vị trí thứ 4 trong giải vô địch TBN nhưng anh cùng Real Madrid lại nhận được cúp vô địch châu âu , phần thưởng danh giá nhất mà một cầu thủ bóng đá được nhận.
Qua một thời gian dài chơi bóng cống hiến cho RM , người thủ lĩnh sân Bernabeu này giã từ bóng đá đỉnh cao ở tuồi 36 và ký hợp đồng với 1 CLB của xứ sở dầu mỏ Quatar , CLB Al Rayyan.Tại đây tuy không còn đạt đỉnh cao phong độ và sức khoẻ nhưng kinh nghiệm của Hierro cũng giúp cho những trận cầu của Al Rayyan thêm phần hào hứng.Anh kết thúc sự nghiệp với 89 lần khoác áo đội tuyển và 29 bàn thắng cho "Xứ sở bó tót".
Ngày nay , anh không còn ở trong đội bóng Real Madrid nhưng các cổ động viên Real khi nhắc về anh luôn nhắc với một vẻ kính trong vì những gì anh đã làm cho đội bóng . Chắc chắn trong trang sách lịch sử về thành công của Real Madrid không thể thiếu cái tên Fernando Hierro.:189:
http://www.sporting-heroes.net/files_football/HIERRO_F_20041107_GH_R.jpg